KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC

>>

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TOÁN 11 HỌC KỲ 1
TOÁN 11
0 De cuongHKI toan11 2013.pdf [135 KB]Tải về

PHẦN THỨ BA

 

KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC

 

1. GIỚI THIỆU KHÁI NIỆM, MỤC TIÊU, PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC :

1.1 Quan niệm về đánh giá trong giáo dục:

a) Đánh giá trong giáo dục:

Đến nay còn nhiều quan niệm khác nhau về ĐG trong GD. Sự khác nhau thường là do cách tiếp cận về ĐG trong GD của các tác giả đó không như nhau.. Chẳng hạn, có người tiếp cận theo hướng chỉ đề cập đến kết quả GD, có người tiếp cận ở góc độ kiểm định chất lượng GD, …

Dưới đây là một số quan niệm (khái niệm) mà chúng ta có thể thấy qua các tài liệu đánh về ĐG :

- Theo Jean – Marie De Ketele (1989)thì: “ĐG có nghĩa là : Thu thập một tập hợp thông tin đủ, thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy; và xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chisphuf hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin; nhằm ra một quyết định”.

- Theo Từ điển Tiếng Việt thì : “ ĐG được hiểu là nhận định giá trị”.

- Trong GD học thì: “ ĐG được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dụa vào phân tích những thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác GD”.

- Theo Ralph Tyler (1984) thì: Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu trong  công tác GD.

- Theo A.I Vroeijenstijn thì: ĐG chất lượng lafmoij hoạt động có cấu trúc nhằm đưa đến sự xem xét về chất lượng của quá trình DH, bao gồm ĐG hay ĐG bởi các chuyên gia từ bên ngoài.

- Theo Trung tâm nghiên cứu về ĐG của Đại học Melbourne (Úc) thì: “ĐG là quá trình thu thập thông tin , chứng cứ về đối tương ĐG và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các tiêu chí đã đưa ra trong các chẩn hay kết quả học tập (KQHT)”.

Qua xem xét các quan niêm về đánh giá như phần trên ta có thể thấy còn có sự không giống nhau trong cách phát biểu , nhưng giữa chúng cũng có những điểm chung sau đây:

+ ĐG là quá trình thu thập thông tin về hiện trạng chất lượng và hiệu quả, nguyên nhân và khả năng của HS;

+ ĐG gắn bó chặt chẽ với các mục tiêu, chuẩn GD;

+ ĐG tạo cơ sở đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng và hiệu quả GD.

Hiện nay, ở nước ta đang thiên về cách hiểu: ĐG là quá trình thu thập và lí giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả GD căn cứ vào mục tiêu dạy học , mục tiêu đào taọ làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động GD tiếp theo.

Như thế, ĐG trong GD thường gồm ba khâu chính là: Thu thập thông tin, xử lí thông tin và ra quyết định. Theo đó, ĐG là một quá trình, bắt đầu khi chúng ta định ra một mục tiêu phải theo đuổi và nó kết thúc khi chúng ta đã đề ra một quyết định  liên quan đến mục tiêu đó.. Tuy nhiên với cách diễn đạt như thế ta không nên hiểu rằng quá trình ĐG kết thúc khi ra được quyết định, mà cần hiểu quyết định có được đó tiếp tục đánh dấu cho sự khởi đầu một quá trình khác, tiếp theo. Chẳng hạn: điều chỉnh nội dung, PPDH, điều chỉnh CT, chuẩn KT-KN; điều chỉnh chế độ chính sách GD;…

Ngày nay, xu hướng chung trong ĐG GD là chuyể từ ĐG tổng kết (ĐG cuối cùng) sang ĐG quá trình; từ việc giữ kín tiêu chuẩn, tiêu chí ĐG sang việc công khai tiêu chuẩn, tiêu chí ĐG (công khai đầu ra); từ ĐG các sự kiện, KN riêng lẻ sang DG KT,KN tổng hợp;…

b) ĐG KQHT

Đến nay, quan niệm về ĐG KQHT của HS còn chưa được thống nhất. Sở dĩ như vậy về cơ bản là docacs tác giả tiếp cận với ĐG theo các góc độ không như nhau. Chẳng hạn, có người tếp cận theo hướng chỉ đề cập đến KQHT, có người tiếp cận theo hướng chỉ đề cập đến NL người học;…

Hiện nay, qua các tài liệu hiện hành ở nước ta cho thấy các tác giả đang thiên về cách hiểu: ĐG KQHT của HS quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện, đạt mục tiêu học tập xác định, về tác động và nguyên nhân của tình hình đónhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm cua GV và nhà trường, cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn.

Theo đó, ĐG KQHT đòi hỏi phải xác định mức đọ nắm vững KT,KN, … của HS so với yêu cầu của CT đề ra. Trong quá trình dạy học thường có 2 loại ĐG KQHT của HS. Đó là ĐG chính thức và ĐG không chính thức.

ĐG không chính thức diễn ra ngay khi tiến hành dạy một bài học hay một đơn vị kiến thức, thông qua quan sát, hay cách thức HS trả lời câu hỏi mà Gv đưa ra, qua việc hoàn thành các bài tập về nhà,… nhằm cung cấp liên tục cho GV và HS những thông tin phản hồi, từ đó mỗi đối tượng sẽ có những điều chỉnh thích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

ĐG chính thức thường tiến hành vào cuối mỗi đơn vị học tâp, nhằm xác định KQHT sau khi học.

1.2. Mục tiêu kiểm tra, đánh giá theo định hướng năng lực:

Với cách hiểu như trên, ĐG KQHT có nhiều mục đích, mục tiêu khác nhau.

Cụ thể :

a)     Đối với HS

- Tuyển chọn và phân loại cho đúng năng lực, trình độ (ĐG đầu vào).

- Xác định kết quả tiếp thu, vận dụng KT – KN và thái độ cần có dựa theo mục tiêu đề ra.

- Thúc đẩy HS có gắng khắc phục thiếu sót hoặc phát huy NL, sở trường của mình.

- ĐG sự phát triển nhân cách nói chungso vứi mục tiêu ĐT và yêu cầu của của thực tiễn (ĐG đầu ra).

b) Đối với GV

- Tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình hình học tập và rèn lyện của HS (hay nhóm HS).

Cung cấp thông tin phản hồi có tác dụng giúp họ giảng dạy và GD tốt hơn.

- Kết quả ĐG tạo cơ sở điều chỉnh, cải tiến MT, nội dng CT, PPDH, kế hoạch đào  tạo nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của quá trình này.

c) Đối với nhà trường

- ĐG việc thực hiện nội dung CT, kế hoạch GD của các tổ bộ môn,GV,…căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và giới hạn của nhà trường nói chung và các bộ phận chuyên trách nói riêng.

- ĐG các điều kiện bảo đảm chất lượng GD của nhà trường và cơ sở, như:

+ NL, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ quản lí của đội ngũ GVvà cán bộ quản lí GD ở cơ sở,…

+ Cơ sở vạta chất kĩ thuật, phương tiện dạy hoc,…

- ĐG việc thực hiện nội quy, quy chế, chế độ, chính sách.

d) Đối với các cơ quan quản lí nhà nước về GD

- ĐG về dư luận xã hội, sự phản ánh của cơ sở cử người đi học, về cách thức tuyển sinh, về kết quả của toàn bộ hệ thống GD, nhằm giúp cơ quản lí GD thấy được thực trạng, nhu cauù và định hướng sửa đổi mục tiêu, nội dung CT, PPDH,…

- ĐG công tác tổ chức, quản lí GD.

Hiện nay, theo chỉ đạo của bộ GD-ĐT thì các kì thi và kiểm tra có thể phục vụ các mục đích chính sau đây:

i) Đo lường KQHT

Khái niệm đo lường thường được hiểu theo Vật lí học, đó là sự so sánh đại lượng cần đo với một đại lượng được cho là đơn vị đo. Lí thuyết đo lường cho thấy có những sai số trong khi đo lường. Sai số này lớn hay nhỏ phụ thuộc công tác chuẩn bị cho việc đo. Chẳng hạn như : công cụ đo, phương pháp đo,…

Đo lường trong GD là vấn đề phức tạp vì đối tượng đo lường ở đây là con người. Do đó, để đo lường được phải làm rõ nội dung ĐG thành các tiêu chuẩn, tiêu chí hay những dấu hiệu, những thao tác,… cố gắng làm rõ, sao cho có thể quan sát được, hay có thể đo lường được. Đo lường trong GD bao gồm cả định tính và định lượng. Định tính bao gồm mô tả, nhận xét,… định lượng thể hiện ở các con số, ở các số liệu, kết quả đo.

Để đo lường trong GD người ta phải xác định được mục tiêu và xây dựng được chuẩn đầu ra, từ đó so sánh kết quả học tập của HS với chẩn đầu ra, dựa theo các tiêu ngầm định trong các mục tiêu GD.

Đo lường kết quả hoc tâph của HS sau khi hoàn thành một giai đoạn học tập là mục đích chính và đơn giản nhất của một kì kiể tra, hay kì thi, cho dù nó được thực hiện bởi một tổ chức hay là một GV tự biên soạn và tổ chức.

Để xây dựng được một bài kiểm tra như vậy thì các mục tiêu của giai đoạn học tập phải được xác định rõ ràng theo các thuật ngữ về KT-KN của con người. Không có con đường nào để nhìn vào trong đầu của một HS, để xác định em đó biết được những gì; chúng ta chỉ có thể xá định được điều đó bằng những biểu hiện KN hay cách trình bày bài làm của các em, có thể là bằng lời nói hoặc việc làm.

Để xác định HS cố nắm được một KT nào đó GV cần phải xây dựng một đề KT bao gồm những tiêu chí, với các mức độ, yêu cầu cần đạt khác nhau vềKT-KN,… mà HS cần vượt qua. Tuy nhiên, khả năng vượt qua một yêu cầu cần đạt về KT không chỉ trong nội bộ môn học mà còn cả ở khả năng áp dụng chúng trong GQVĐ hay trong thực tiễn.

ii) Tuyển chọn

Tuyển chọn là không thể tránh được khi chỉ có một số chỗ được định sẵn chẳng hạn kì thi đại học, ở đó số thí sinh nhiều hơn là chỉ tiêu trúng tuyển. Những kì thi như vậy không phải là đạt hay không, mà đòi hỏi phải xếp hạng giữa các thí sinh. Nói chung người ta giả thiết rằng, kì thi có thể phân biệt được giữa các thí sinh với nhau có số điểm không phân tán lắm.

iii) Dự đoán

Những kì thi được sử dụng để dự đoán xem những người dự thi có thể đạt được những kết quả nào trong tương lai. Đạt thành tích cao trong môn học ở những năm cuối cấp THPT là một chỉ số tốt về khả năng thông minh của HS để có thể trở thành một sinh viên giỏi theo chuyên ngành ở bậc đại học. Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải như vậy, vì có nhiều HS vào những năm sau đó có thể không thích học ngành mà mình có điểm số cao ở trường PT.

 Người ta thường cho rằng những lì thi dùng cho tuyển chọn có giá trị dự đoán. Giá trị dự đoán của một bài KT hay kì thi chỉ có thể được xác định khi so sánh sự thể hiện của HS trên bài KT với mức độ đạt được của HS ở môn học mà kì thi được sử dụng để dự đoán.

iv) Chẩn đoán

Những KT chẩn đoán được xây dựng không nhằm để ĐG KQHT trong một môn học, mà còn để phát hiệnnhững NL của HS trong những lĩnh vực học tập chuyên biệt. Như vậy, nó cũng đem lại những thông tin về chẩn đoán, mặc dù những khuyết điểm trong các KT đó có thể biểu lộ những khó khăn thách đố chẩn đoán NL xác thực.

Một kì thi hay KT có thể mang giá trị chẩn đoán khi trả lời câu hỏi: “ Việc dạy ở một phần nào đó của chương là có hiệu quả hay không ?”. Vấn đề là ở chỗ một câu trả lời không tốt của HS có thể là do việc giảng dạy hay việc chọn các đồ dung DH không phù hợp. Đối với GV thông tin phản hồi này về tính hiệu quả trong giảng dạy của mình là quan trọng.

Kết quả cuối cùng của việc xử lí tốt các kết quả thu được từ KT chẩn đoán có thể là sự cải thiện bài giảng, cải thiện việc dạy, cải thiện KQHT của HS và cải thiện cách KT.

v) Kích thích động cơ

Động cơ học tập được coi như là một trong những thành phần chủ yếu của quá trình học tập. Dù cho các kì KT là do Bộ, hay Sở, hay GV tạo nên thì chúng đều có tác động khích lệ đến cả GV và HS.

Đặc biết ở THPT, kết quả ĐG còn cung cấp một mục tiêu và kích thích các trường và cá nhân HS trong dạy và học.

Các kỳ thi được tổ chức theo chu kỳ sẽ thúc đẩy HS phải biết các tổ chức thói quen học tập của mình một cách hệ thống hơn và hiệu quả hơn. Các kỳ thi cũng đem lợi ích đến cho GV, các kế hoạch bài học phải được chuẩn bị một cách hệ thống, dạy qua hết CT, theo CT quy định và GV có căn cứ để ĐG lớp học của mình.

vi) Tổ chức điều khiển quá trình DH:

Kì thi có thể giúp GV cũng như HS định hướng và tự điều chỉnh trong quá trình dạy học. Để việc dạy có hiệu quả, mục tiêu dạy học phải được xác định rõ ràng, kinh nghiệm học tập phải được cung cấp để đạt được những mục tiêu này và KT là một phần của quá trình, nó xác định mức độ đạt được và mục tiêu đã đề ra.

1.3. Đôi nét về phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá môn toán theo định hướng năng lực

Một số vấn đề chung về phương pháp ĐG, xin phép xem ở phụ lục 3.

Ở phần này, chúng tôi xin trình bày một số vấn đề cơ bản, liên quan đến ĐG nói chung, ĐG NL nói riêng.

1.3.1. Quy trình xây dựng bộ công cụ đánh giá kết quả học tập của HS

Theo Patrick Griffin (và cộng sự thuộc ARC, Úc), một vấn đề nào đó cần ĐG thường là điều mà ta chưa biết, hay còn gọi là biến ẩn (Xem hình minh họa ở bên), đó cũng chính là biến đo lường, biến này không trực tiếp quan sát được.

 

 
  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Để ĐG được đúng biến đo lường ta cần tường minh hóa biến ẩn đó thành (hay qua) các tiêu chí. Lúc này biến ẩn được hiển thị và được gọi là biến xây dựng, biến này ta có thể trực tiếp quan sát đư